Tính trợ cấp thôi việc & mất việc làm

Khi hợp đồng lao động chấm dứt, ngoài trợ cấp thất nghiệp từ BHXH, nhiều trường hợp người sử dụng lao động còn phải trả trợ cấp thôi việc hoặc trợ cấp mất việc làm. Điểm hay bị tính sai nhất: thời gian đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp bị trừ ra khỏi thời gian tính trợ cấp. Công cụ trừ giúp bạn và quy đổi thời gian đúng quy định.

Thời gian tính hưởng: 20 tháng

Quy đổi ra năm: 2 năm

Số tiền trợ cấp: 10.000.000 đ

Theo Điều 46–47 Bộ luật Lao động 2019 và Nghị định 145/2020 Điều 8: thời gian tính hưởng = tổng thời gian làm việc − thời gian đã đóng BHTN − thời gian đã được trả trợ cấp; phần lẻ 1–6 tháng tính 0,5 năm, 7–11 tháng tính 1 năm. Trợ cấp thôi việc mỗi năm 0,5 tháng lương; trợ cấp mất việc làm mỗi năm 1 tháng lương, tối thiểu 2 tháng lương.

Cách tính

Thời gian tính trợ cấp = tổng thời gian làm việc thực tế − thời gian đã tham gia BHTN − thời gian đã được chi trả trợ cấp thôi việc/mất việc làm trước đó (Điều 8 Nghị định 145/2020/NĐ-CP). Quy đổi ra năm: phần đủ 12 tháng tính nguyên năm; lẻ 1–6 tháng tính 0,5 năm; lẻ 7–11 tháng tính 1 năm. Trợ cấp thôi việc (Điều 46 BLLĐ 2019): mỗi năm tính hưởng bằng 0,5 tháng tiền lương. Trợ cấp mất việc làm (Điều 47): mỗi năm bằng 1 tháng tiền lương, nhưng tổng số tiền ít nhất bằng 2 tháng tiền lương. Tiền lương làm căn cứ là bình quân tiền lương theo hợp đồng lao động của 6 tháng liền kề trước khi thôi việc/mất việc. Điều kiện chung: đã làm việc thường xuyên cho người sử dụng lao động từ đủ 12 tháng trở lên.

Ví dụ

Lương bình quân 6 tháng cuối 10.000.000đ, làm việc 120 tháng, trong đó đã đóng BHTN 100 tháng: thời gian tính hưởng = 120 − 100 = 20 tháng, quy đổi thành 2 năm. Trợ cấp thôi việc = 0,5 × 10.000.000 × 2 = 10.000.000đ. Nếu cùng số liệu nhưng thuộc diện mất việc làm: 1 × 10.000.000 × 2 = 20.000.000đ.

Hỏi đáp thường gặp

Trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm và trợ cấp thất nghiệp khác nhau thế nào?

Khác nhau ở người trả và khi nào được trả. Trợ cấp thất nghiệp do quỹ BHTN (cơ quan BHXH) trả hàng tháng khi bạn nghỉ việc và đang tìm việc. Trợ cấp thôi việc do chính doanh nghiệp trả một lần khi hợp đồng chấm dứt thuộc các trường hợp luật định (hết hạn hợp đồng, hoàn thành công việc, thỏa thuận chấm dứt, doanh nghiệp chấm dứt hoạt động...). Trợ cấp mất việc làm cũng do doanh nghiệp trả, nhưng chỉ khi bạn bị mất việc vì doanh nghiệp thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế, sáp nhập/chia tách. Ba khoản này độc lập: bạn có thể vừa nhận trợ cấp thôi việc/mất việc từ công ty, vừa hưởng trợ cấp thất nghiệp nếu đủ điều kiện.

Vì sao thời gian đóng BHTN bị trừ khỏi thời gian tính trợ cấp thôi việc?

Vì từ khi chế độ BHTN ra đời (01/01/2009), rủi ro mất thu nhập khi nghỉ việc đã chuyển sang quỹ BHTN đảm nhận. Nghị định 145/2020 Điều 8 quy định thời gian tính trợ cấp thôi việc/mất việc không bao gồm thời gian đã tham gia BHTN. Hệ quả thực tế: người đi làm và đóng BHTN liên tục nhiều năm gần đây thường có thời gian tính hưởng bằng 0 — khoản họ nhận khi nghỉ việc chủ yếu là trợ cấp thất nghiệp, không còn trợ cấp thôi việc từ công ty.

Trường hợp nào nghỉ việc mà KHÔNG được trả trợ cấp thôi việc?

Theo Điều 46 BLLĐ 2019, không được trả trợ cấp thôi việc khi: (1) bạn đã đủ điều kiện hưởng lương hưu (đủ tuổi nghỉ hưu và đủ thời gian đóng BHXH); (2) bạn tự ý bỏ việc không có lý do chính đáng từ 5 ngày làm việc liên tục trở lên; (3) bạn bị xử lý kỷ luật sa thải. Ngoài ra phải đáp ứng điều kiện làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng và còn thời gian tính hưởng sau khi trừ BHTN.

Mất việc làm được trả tối thiểu bao nhiêu?

Điều 47 BLLĐ 2019: trợ cấp mất việc làm bằng 1 tháng lương cho mỗi năm tính hưởng, nhưng tổng số tiền ít nhất bằng 2 tháng tiền lương. Ví dụ lương 10.000.000đ, thời gian tính hưởng chỉ 7 tháng (quy đổi 1 năm) thì công thức cho 10.000.000đ, nhưng bạn được trả mức tối thiểu 20.000.000đ. Mức tối thiểu này chỉ áp dụng cho trợ cấp mất việc làm, không áp dụng cho trợ cấp thôi việc.

Trợ cấp thôi việc có phải đóng thuế thu nhập cá nhân không?

Trợ cấp thôi việc và trợ cấp mất việc làm trả đúng mức theo BLLĐ thuộc khoản thu nhập được miễn thuế TNCN. Phần doanh nghiệp chi trả cao hơn mức luật định (nếu có thỏa thuận riêng) thì phần vượt đó phải tính thuế theo quy định. Khi nhận tiền, bạn nên yêu cầu bảng tính chi tiết để đối chiếu thời gian tính hưởng và mức lương căn cứ.

Công cụ liên quan

Bài viết liên quan